QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY NGÔ

Ngô (Zea mays L., thuộc họ hòa thảo Gramineae) là cây trồng quan trọng đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu, được trồng để làm thức ăn cho người và gia súc.

Ở nước ta cây lương thực chính sau cây lúa là cây ngô, ngô được xem là nguồn lương thực chủ yếu, là nguyên liệu chính để chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.

Cùng với xu hướng phát triển chung của ngành Nông nghiệp gần đây, cây ngô cũng được đầu tư phát triển theo. Thực tế, tình hình sản xuất và phát triển cây ngô thời gian qua trong cả nước luôn tăng cả về diện tích và sản lượng. Để trồng cây Ngô đạt năng suất cao Công ty CP phân bón Nhật Long Thanh Hóa chúng tôi đưa ra quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Ngô như sau:

  1. Nhu cầu dinh dưỡng cây ngô

Đạm:  Là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng nhất, đóng vai trò tạo năng suất và chất lượng. Đạm được tích luỹ trong hạt 66%. Cây ngô hút đạm tăng dần từ khi cây có 3 – 4 lá tới trước trổ cờ. thời kỳ hút đạm mạnh nhất là 6 – 12 lá và trước khi trổ cờ, nếu các giai đoạn này mà thiếu đạm thì năng suất giảm rõ rệt.

Triệu chứng thiếu đạm: Cây thấp, lá nhỏ có màu vàng, các lá già có vệt xém đỏ, cây sinh trưởng chậm, cằn cỗi, cờ ít, bắp nhỏ, năng suất thấp.

Lân: Là yếu tố quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây, tuy nhiên khả năng hút lân ở giai đoạn cây non lại rất yếu. Thời kỳ 3 – 4 lá, cây ngô hút không được nhiều lân, đó là thời kỳ khủng hoảng lân của ngô, nếu thiếu lân trong giai đoạn này sẽ làm giảm năng suất nghiêm trọng. Cây ngô hút nhiều lân nhất (khoảng 62% tổng lượng lân yêu cầu) ở thời kỳ 6 – 12 lá sau đó giảm đi ở các thời kỳ sau.

Triệu chứng thiếu lân: Cây ngô biểu hiện bằng màu huyết dụ trên bẹ lá và gốc cây, bắp cong queo. Trường hợp thiếu nắng lá sẽ chuyển vàng và chết.

Kali: Có vai trò rất quan trọng tới sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của ngô. Kali tích luỹ nhiều ở thân lá (khoảng 80%) và tích luỹ trong hạt ít hơn. Cây ngô hút kali mạnh ngay từ giai đoạn sinh trưởng ban đầu. Từ khi cây mọc tới trổ cờ ngô đã hút khoảng 70% lượng kali cây cần.

Thiếu kali các chất prôtit và sắt sẽ tích tụ gây cản trở quá trình vận chuyển chất hữu cơ. Thiếu kali là nguyên nhân rễ ngang phát triển mạnh, rễ ăn sâu kém phát triển do đó cây dễ đổ ngã. Thiếu kali thể hiện ở các triệu chứng như chuyển nâu và khô dọc theo mép lá và chóp lá, bắp nhỏ, nhiều hạt lép ở đầu bắp (bắp đuôi chuột), năng suất thấp.

  1. Các giai đoạn sinh trưởng
    • Thời kỳ hạt nảy mầm: Bắt đầu từ khi hạt hút nước đến khi hạt nảy mầm.

Nước hạt phải hút ít nhất 45% nước so với khối lượng khô của hạt, độ ẩm đất        60 – 70% độ ẩm tối đa đồng ruộng. Đất khô cần làm đất giữ ẩm, đất quá ướt phải làm đất tiêu nước

Nhiệt độ tối thiểu 10 – 120C, nhiệt độ thích hợp 28–300C. Đất phải tơi xốp, thoáng khí

  • Thời kỳ nảy mầm đến 3 lá

Sau khi mầm ngoi lên khỏi mặt đất, lá đầu tiên suất hiện rất nhanh. Trong điều kiện thuận lợi  chỉ 5 – 7 ngày sau gieo xuất hiện 3 lá thật.

Độ ẩm đất 60 – 70%

Nhiệt độ 20 – 300C. Đất phải thoáng khí, tơi xốp

  • Thời kỳ cây con (từ 3 lá đến phân hóa hoa)

Bắt đầu từ khi cây có 3 – 4 lá đến 7 – 9 lá, khoảng 10 – 40 ngày sau khi gieo

Độ ẩm đất: Giai đoạn này cây có khả năng chịu hạn tốt, độ ẩm đất thích                hợp 60 – 65%. Nhiệt độ thích hợp 20 – 300C nhiệt độ tốt nhất 25 – 280C

Đất tơi xốp, thoáng để hệ rễ phát triển, đầy đủ dinh dưỡng để cung cấp cho quá trình tạo cơ quan sinh dưỡng và bông cờ

  • Thời kỳ phân hóa hoa đến trỗ cờ

Thân lá phát triển mạnh, cây lớn vọt nhất từ 15 – 20 ngày trước trỗ cờ.

Phải đầy đủ dinh dưỡng, độ ẩm đất 70 – 80%, nhiệt độ thích hợp 24 – 250C

( nhiệt độ cao hay thấp có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phatts triển của cây ngô)

  • Thời kỳ trỗ cờ, tung phấn phun râu

Diễn ra trong 10 – 15 ngày, đây là thời kỳ quyết định tới năng suất

Nhiệt độ thích hợp 22 – 250C. nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao phấn sẽ bị chết

  • Thời kỳ chín

Thời gian hoàn thành giai đoạn  này từ  35 – 40 ngày. Chất dinh dưỡng tập trung từ thân lá vào hạt. nhiệt độ trong khoảng  20 – 220C. Độ ẩm 60 – 70%

  1. Kỹ thuật trồng, bón phân và chăm sóc
    • Thời vụ

Vụ ngô xuân: gieo từ 15/1 đến 15/2.

Vụ hè thu: tháng 5 – 6.

Vụ đông gieo: 15/9 đến 15/10.

  • Đất trồng

Ngô có thể trồng được trên nhiều chân đất khác nhau, song phù hợp cho ngô sinh trưởng và phát triển là đất có thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình: Đất thịt nhẹ đến đất trung bình, đất phù sa ven sông, đất cát pha, đất bồi ven sông , đất đỏ ba gian….Đất có tầng canh tác từ 30- 40 cm không bị kết von đá ong, thoát nước tốt, độ pH = 6,5 –  7,5.

Đất được cày bừa nhỏ, sạch cỏ. Nếu đất 2 vụ lúa, trồng thêm ngô vụ đông, cần lên luống rộng 1- 1,1m, cao 30- 40 cm, rãnh luống rộng 0,3 – 0,4m. Nếu đất màu thoát nước tốt có thể làm vạt hoặc làm đất bằng.

  • Gieo trồng ngô

3.3.1. Mật độ và khoảng cách gieo

Dựa vào đặc điểm hình thái của giống, thời gian sinh trưởng, tính chất đất, trình độ thâm canh, mục đích thu hoạch… Mật độ khoảng cách ngô gieo lấy hạt thường trồng trong sản xuất như sau:

  • Nhóm giống ngắn ngày có mật độ 70.000 – 80.000 cây/ha.

Gieo với khoảng cách 70 x 20 hoặc 50 x 25 cm/cây.

  • Nhóm giống trung ngày: 60.000 – 70.000 cây/ha

Gieo với khoảng cách 70 x 25 cm/cây hoặc 70 x 22 cm/cây

  • Nhóm giống dài ngày: 50.000 – 60.000 cây/ha

Gieo với khoảng cách 80 x 25 cm/cây hoặc 70 x 25 cm/cây

3.3.2. Chuẩn bị hạt giống và cách gieo

Hạt giống trước khi ngâm cần phơi lại dưới nắng nhẹ, để hạt hút nước nhanh và kích thích phôi mầm hoạt động. Hạt có tỷ lệ nảy mầm trên 95,5%  thì 1 ha cần khoảng 15 – 20 kg giống.

Ngâm ủ: Nếu gieo ngô trên đất đủ ẩm cần ngâm hạt 10- 12h (riêng đối với ngô đường và các giống ngô có hạt dạng nhũ bột ngâm khoảng 4 – 5h) cho hạt hút no nước. Nếu nhiệt độ cao, trời ấm cần thay nước tránh hạt bị chua. Sau đó ủ cho hạt nứt nanh, rồi đem gieo.

Nếu đất khô không nên ngâm mà gieo theo hàng, theo hốc khoảng cách          20 x 30 cm/cây. Lấp hạt sâu 3 – 7cm tuỳ theo độ ẩm đất và thời tiết. Nên gieo        tuần tự “2 hạt- 1 hạt” đối với giống có tỷ lệ nảy mầm thấp.

Ngô là cây trồng có khoảng cách rộng. Cách tưới là cho nước vào rãnh để ngấm dần các luống trong một ngày, nâng độ ẩm của đất lên 80 – 90% là vừa.

  • Phân bón

Lượng phân cho 1 sào

  • Bón lót

Cách bón lót: Bón theo hốc hay bón theo rạch sâu, rãi phân vùi đất lấp kín             2 – 3cm, sau đó tra hạt hoặc đặt bầu.

Lượng bón lót  (Cho 1 sào 500m2): Chuyên lót Cây Ngô 25kg/sào

3.4.2. Bón thúc

   Bón thúc lần 1: Bón thúc khi cây ngô có 4 – 5 lá thật

Sử dụng sản phẩm chuyên thúc cho cây ngô Lượng bón: từ 12 – 15 kg/ sào

Cách bón: bón cách gốc 5 – 7cm kết hợp xới xáo, vun cao luống sau khi bón phân phải lấp đất lại. Nếu đất khô có thể hòa nước tưới.

Bón thúc lần 2: Bón khi cây 7 – 9 lá thật

Sử dụng sản phẩm chuyên thúc cho cây ngô Lượng bón: từ 10 – 12 kg/ sào

Cách bón: Bón cách gốc 10 – 15cm kết hợp xới xáo vun cao luống.

  • Chăm sóc

Dặm cây trường hợp ruộng ngô bị mất khoảng: Dùng bầu trồng dặm khi ngô            2 – 3 lá  để  đảm bảo mật độ.

– Tỉa định cây lúc cây ngô 3 – 5 lá và ổn định mật độ khi ngô 6 – 7 lá.

– Đất khô hạn nếu có điều kiện nên tưới nước để ngô phát triển tốt cho năng suất cao ở các thời kỳ quan trọng như:

+ Thời kỳ cây 7 – 9 lá sau khi bón phân 2 – 3 ngày tưới ngập 1/3 luống.

+ Thời kỳ trước trổ cờ 10 – 15 ngày tưới ngập 2/3 luống thấm đều rồi rút cạn.

+ Thời kỳ: Khi ngô đã héo râu tưới ngập 1/3 luống rồi rút cạn.

Nếu trời mưa to làm cho đất ướt thì cần tháo khô nước, xới xáo để ngô không bị úng nước, nhất là thời kỳ cây con.

Lưu ý: Giai đoạn ngô 5 – 6 lá, 7 – 9 lá, 11 – 12 lá và xoáy nõn loa kèn là giai đoạn dễ bị khủng hoảng dinh dưỡng, vì vậy cần chú ý cung cấp đủ dinh dưỡng để ngô sinh trưởng phát triển tốt.

Nước tưới: Cây ngô rất cần nước nhưng không chịu được ngập úng, đặc biệt giai đoạn cây con.

Từ khi ngô xoáy nõn loa kèn đến khi trỗ cờ phun râu xong rất cần nước nên giữ nước đáy rãnh để duy trì lượng nước cần thiết cho ngô.

  1. Sâu, bệnh hại

4.1. Sâu hại

Sâu hại thời kỳ cây con gồm có sâu keo, sâu xám… cắn phá cây con thì dùng Vibasu 10H, Diazan 10H rải gần gốc cây, liều lượng 1kg/sào.

Đối với sâu đục thân hại ngô là đối tượng nguy hiểm nhất đối với nghề trồng ngô. Dùng thuốc Vibasu 10H hoặc Diazan 10H rơi vào loa kèn 8 – 10 hạt vào thời điểm sau khi gieo 20, 30, 40 ngày.

Đối với sâu đục bắp, sâu phá hại trên râu. Dùng thuốc Basudin50N, Regent 800WG, Tango 800WG … phun khi thấy sâu xuất hiện (Liều lượng theo hướng dẫn trên bao bì).

4.2. Bệnh hại

Để hạn chế bệnh hại cây ngô cần bón phân đầy đủ cân đối, khi xuất hiện bệnh hai có thể dùng thuốc BVTV: Đối với các bệnh khô vằn, bệnh đốm lá, bệnh thối cổ rễ có thể dùng các loại thuốc Anvil 5SC, Validacin3EC pha nồng độ 1/500, Tilt super liều lượng 15cc/bình 16 lít. Phun đẫm lên toàn bộ diện tích bị bệnh.

  1. Thu hoạch

Thời kỳ thu hoạch: Khi ngô đã chín hoàn toàn mới thu hoạch. bằng việc quan sát hạt ngô ở đầu trái và cuối trái. Khi lá bao trái đã khô, hạt cứng, lãy thử hạt,nếu ở chân các hạt này có lớp màu đen là hạt đủ chín để thu hoạch. Nếu trồng ngô lấy thân lá thì thu hoạch lúc chín sữa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *