QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DỨA

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY DỨA

   Cây dứa thuộc họ Dứa (Bromeliaceae). Cây Dứa thuộc loại cây thảo lâu năm.

   Dứa là cây ăn quả nhiệt đới được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, nhất là khi kỹ thuật làm dứa hộp phát triển (cuối thế kỷ 19). Dứa là cây có hàm lượng dinh dưỡng  cao.

   Dứa là cây ăn quả chịu hạn, trồng theo đường đồng mức có khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn.

   Cây Dứa tiêu hao nhiều nhất là Kali, rồi đến Đạm sau đó mới đến Lân và Magie. Ngoài ra cũng cần các nguyên tố vi lượng khác.

   Phân bón giữ vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất dứa “Nhất nước, Nhì phân, Tam cần, Tứ giống”. Vì vậy Để giúp Bà con Nông dân trồng Dứa có năng suất và mang lại hiệu quả kinh tế cao Công ty cổ phần phân bón Nhật Long Thanh Hoá xin “Hướng dẫn quy trình trồng và chăm sóc Cây Dứa” như sau:

  1. Chọn đất trồng dứa

   Cây dứa không kén đất lắm, đất đồi  từ loại 1 đến loại 5, đất chua phèn có cấu tượng tầng tốt, tơi xốp, thoát nước đều có thể tròng được dứa.

   Cây dứa có bộ rễ phát triển chủ yếu ở lớp đất nông trên mặt điều kiện tốt nhất cho dứa phát triển là đất tơi xốp, thoáng khí, nhiều mùn, đất có phản ứng chua, độ dốc 3 – 50, sườn đồi thoai thoải, thoát nước tốt (pH đất từ 4,5  – 5,5).

  1. Làm đất trồng dứa

2.1. Cày xới

     Đối với các vùng đất bằng phẳng độ dốc < 5°, tiến hành làm đất toàn diện, cày sâu 25 – 30 cm, bừa nhiều lần đảm bảo đất nhỏ và tơi xốp; Các vùng đất tương đối dốc có thể cày bừa hoặc làm đất cục bộ, chỉ tiến hành trên các hàng, luống dự định trồng.

    Thời gian tiến hành làm đất phụ thuộc vào thời vụ trồng mới, thường tiến hành trước lúc trồng một thời gian (20-30 ngày) để đất không bị khô, tránh bị xói mòn khi mưa lớn và thuận tiện cho thao tác trồng, giúp cây con sớm hồi phục.

    Vùng đất mới khai hoang, nên tiến hành cày vỡ vào cuối mùa thu hoặc trong mùa đông, kết hợp vệ sinh đồng ruộng, diệt mầm cỏ dại để đến năm sau cày bừa lại và tiến hành trồng.

     Đối với những vườn dứa trồng lại chu kỳ hai: Nơi có điều kiện có thể sử dụng máy phay băm thân lá kết hợp rải 750 – 1000 kg chất điều hòa pH đất Tiến Nông/ha, tiến hành cày lấp thân dứa cho hoai mục. Nơi không có điều kiện sử dụng máy phay, dùng cuốc răng cào thân lá phơi khô tại ruộng, tập trung thành đống to rồi tiến hành đốt, rải đều tro lên mặt ruộng.

Để tạo điều kiện thoát nước tốt trong mùa mưa, hạn chế bệnh thối nõn gây hại dứa, tiến hành lên luống khi trồng.

2.2. Lên luống

Chiều cao luống: 20-25cm,

Bề rộng mặt luống (tùy thuộc quy cách trồng) và được tính như sau:

R = 40 x (N-1) + 2 x 20cm

R: Bề rộng mặt luống tính bằng cm;

N: là số hàng dự định trồng trên một luống

   Khoảng cách giữa các luống: Để thuận tiện cho khâu chăm sóc khoảng cách giữa hai mép luống nên để 30 cm, như vậy khoảng cách giữa các hàng rìa ngoài mép luống sẽ là 70 cm (đảm bảo cho đi lại dễ dàng).

Ví dụ:       Nếu luống trồng 4 hàng thì bề rộng mặt luống sẽ là: 40 x (4-1) + 2 x 20 = 160cm.

                 bề rộng đáy luống sẽ là 160 + 30 cm =190cm.

  1. Chọn giống và xử lý chồi giống

3.1. Chọn giống: Có ba nhóm dứa được trồng phổ biến ngày này

– Nhóm dứa Queen (còn gọi là nhóm dứa hoàng hậu)

– Nhóm dứa Spanish (còn gọi là nhóm Tây Ban Nha)

– Nhóm dứa Cayenne

    Đặc điểm chung: Giống có khả năng cho năng suất cao, quả to, chịu được phân bón, có khả năng trồng dày. Giống ít bị sâu bệnh phá hại, có khả năng chịu hạn cao.

    Phẩm chất quả tốt đạt được yêu cầu của nhà máy và quy cách chế biến, quả đều, dạng hình trụ (phù hợp với việc cắt gọt quả bằng máy nhanh chóng và tiện lợi). Trọng lượng quả bình quân lớn, quả có mắt nông, lõi quả nhỏ, thịt quả mịn và chặt  

3.2. Chọn chồi giống: 

   Chồi giống chọn phải đạt 3 loại chuẩn sau

Chồi loại 1: Số lá từ 14 – 15 lá; trọng lượng chồi 250 – 300g

Chồi loại 2: Số lá từ 12 – 13 lá; trọng lượng chồi 200 – 250g

Chồi loại 3: Số lá từ 10 – 11 lá; trọng lượng chồi 170 – 200g

   Chồi không được dập nát và phải được lấy từ vườn cây đảm bảo sạch bệnh, độ đồng đều cao (95% trở lên).

   Tùy theo thời vụ trồng mà lựa chọn tiêu chuẩn của chồi cho thích hợp:

Vụ xuân tháng 1,2,3,4: Có thể trồng được cả 3 loại chồi

Vụ hè tháng 5,6: Chỉ nên trồng chồi loại 1 (chồi già, to, khoẻ)

Vụ thu tháng 7, 8, 9: Nên trồng chồi non (chồi loại 3)

Vụ đông tháng 10,11,12: Nếu có điều kiện chăm sóc (tưới nước), nên trồng chồi loại 2 và loại 3. Nếu trồng chồi già phải hãm sinh trưởng để hạn chế ra hoa.

3.3. Xử lý chồi giống

Sau khi thu hoạch chồi: Phân loại chồi để đảm bảo độ đồng đều và bó lại thành từng bó nhỏ khoảng 20-30 chồi/1bó. Phơi ngược gốc chồi trong 1-2 tuần ngoài nắng để lành vết thương ở gốc chồi.

Chồi trước khi trồng cần xử lý để trừ các mầm bệnh bằng các loại thuốc như: Aliette 80WP hoặc Mexyl MZ 72WP… để phòng bệnh thối nõn, thối thân, thối rễ, nồng độ pha như  hướng dẫn trên bao bì của nhà sản xuất, hoặc có thể dùng dung dịch Boocđo nồng độ 1-2% để xử lý.

Cách xử lý: Nhúng ngập gốc chồi vào dung dịch các loại thuốc đã pha trên trong thời gian 2-3 phút hoặc phun ướt đẫm lên gốc của bó chồi.

Đối với những chồi dài trên 40cm, chồi trồng mùa khô từ T11 trở đi nên cắt bớt ¼ ngọn lá.

​​4. Mật độ trồng, chăm sóc và bón phân cho cây dứa

4.1. Mật độ trồng

    Mật độ trồng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất, ở Việt Nam mật độ trồng thích hợp là từ 45.000-55.000 cây/ha, tùy vào số hàng trên luống (2-4 hàng/luống). Do vậy, để đảm bảo mật độ trồng, khoảng cách giữa các cây trong hàng chỉ để từ     30-40cm (30cm nếu trồng 2 hàng một luống và 40cm nếu trồng 3-4 hàng một luống), hàng cách hàng 40cm và khoảng cách giữa các mép luống là 30 cm.

4.2. Phân bón cho cây dứa

   Căn cứ theo đặc điểm khí hậu, thời tiết và điều kiện thổ nhưỡng các vùng trồng dứa , Công ty Cổ phần phân bón Nhật Long Thanh Hóa giới thiệu sản phẩm dinh dưỡng “NPKCây dứa” và khuyến cáo giải pháp đồng bộ dinh dưỡng cho canh tác và chăm sóc cây dứa nhằm đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao

Bón lót: Trước khi trồng

Lượng bón: 2000 – 2500kg/ha Hữu cơ xanh + 800 – 1000 kg/ha NPK 17 – 7 – 17 + 7S + TE

Cách bón: Đảo đều với đất trong hốc hoặc rãnh trồng.

Bón thúc: Sử dụng sản phẩm dinh dưỡng cây trồng Nhật Long NPK 17 – 7 – 17 + 7S + TE,

                  lượng bón cho mỗi ha từ 1800 – 2200 kg (chia hai lần).

  • Bón thúc lần 1 (khi cây có 4 – 5 lá mới):

Lượng bón800 – 1000 kg/ha.

  • Bón thúc lần 2 (khi cây đạt 13 – 14 lá thật, hoặc trước xử lý hoa 25 – 35 ngày):

Lượng bón: 1000 – 1200 kg/ha.

Cách bón: Bón theo hốc hoặc rạch hàng giữa hai hàng dứa (vì bộ rễ cây dứa phát triển chủ yếu tầng đất mặt, nên chỉ rạch hàng sâu khoảng 8-12cm), rải đều phân và dùng cuốc lấp kín.

 

4.3. Chăm sóc dứa

– Tưới nước và giữ ẩm đất

     Dứa tuy là cây chịu hạn khá, có thể trồng trọt ở những nơi đất khô cằn và các vùng đất dốc nhưng vẫn rất cần nước để sinh trưởng phát triển, cho năng suất cao và phẩm chất tốt. Vì vậy, cũng cần tưới nước cho cây khi đổ ẩm đất dưới 40-50% trong nhiều ngày.

     Phủ đất ruộng dứa cũng là biện pháp được quan tâm, để giữ ẩm cho đất trong mùa khô mà còn chống úng và chống xói mòn đất trong mùa mưa, hạn chế cỏ dại, giúp tăng năng suất dứa. Dùng màng phủ nilông màu đen phủ lên đất giữa 2 hàng dứa, hoặc có điều kiện dùng rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp hoặc cỏ khô để phủ lên còn có thể cung cấp thêm mùn cho đất.

– Tỉa chồi

   Đối với cây dứa, tỉa chồi là biện pháp cần thiết, nhất là với các giống nhóm Queen và Spanish là giống thường ra nhiều chồi, tranh chấp dinh dưỡng của quả. Chồi cần tỉa bỏ trước hết là chồi ngọn và chồi cuống vì những chồi này không dùng làm giống.

   Thời điểm tỉa chồi: Khi hoa dứa đã tàn 10-15 ngày, chồi ngọn đã cao 4- 6 cm là lúc bắt đầu tỉa chổi, chổi dứa đem về lại là một món rau ăn rất tốt, có thể xào, luộc, muối dưa đều rất ngon và hợp khẩu vị. Quả dứa được đánh bỏ chồi ngọn phát triển cân đối, quả to, nặng cân, hình dáng quả đẹp, lõi bé, phẩm chất cao (nên tỉa chổi vào những ngày nắng ráo để vết thương mau lành, tránh các loại nấm và vi khuẩn xâm nhập làm thối quả).

 – Rải vụ thu hoạch

   Thường cây dứa có thời vụ chín rất tập trung gây khó khăn cho thu hoạch, chế biến và tiêu thụ. Vì vậy, ở những cơ sở sản xuất diện tích lớn, cần phải rải vụ theo cách:

+ Trồng nhiều giống dứa khác nhau theo từng lô riêng để kéo dài thời gian thu hoạch.   Miền Bắc, nhóm dứa Queen chín vào tháng 5-6, nhóm Spanish chín vào tháng 6-7 còn nhóm Cayen chín vào tháng 7-8. Nếu trồng cả 3 nhóm giống thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8.

+ Trồng nhiều loại chồi có kích thước, trọng lượng khác nhau vào các thời vụ và từng lô khác nhau cũng cho thời gian ra hoa và thu hoạch khác nhau.

+ Xử lý cho cây ra hoa theo thời gian dự kiến là biện pháp rải vụ thu hoạch rất có hiệu quả.

Cây dứa đủ tiêu chuẩn xử lý ra hoa

– Xử lý cho cây ra hoa

   Thời điểm xử lý: Trung bình thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch là 4-5 tháng tùy thời vụ và điều kiện chăm sóc. Do vậy, cần xử lý ra hoa trước thời gian dự kiến thu hoạch 5-6 tháng (tương đương với cây có số lá 18 – 20 lá thật).

   Hóa chất xử lý: Dùng dung dịch Ethrel, pha 40 – 60ml/bình 10lít phun vào nõn dứa với lượng 30 – 40ml/cây. Có thể dùng đất đèn, sử dụng 4-6g đất đèn pha trong một lít nước xử lý cho 20 cây (mỗi cây 50 ml dung dịch), xử lý 2 lần cách nhau một ngày, xứ lý vào 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau (làm qua đêm).

Chú ý: Tránh xử lý vào thời điểm nắng gắt hay rét đậm kéo dài, nếu xử lý xong trong khoảng thời gian 2 đến 3 giờ gặp trời mưa phải xử lý lại, Nếu họng dứa chứa nước mưa tăng lượng thuốc pha xử lý lên 10-15%.

  1. Sâu bệnh hại và phòng trừ

   Là một cây ít bị sâu bệnh phá hại so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy vậy, người ta cũng thấy cây dứa thường bị hại bởi rệp xáp, bệnh héo khô đầu lá (virus) và bệnh thối nõn. Đặt biệt, rệp sáp và bệnh héo khô đầu lá thường xuất hiện cùng lúc và có quan hệ mật thiết với nhau.

5.1. Bệnh héo khô đầu lá dứa

      Cho đến nay bệnh héo khô vẫn là mối lo lớn nhất đối với người trồng dứa. Vết bệnh thường xuất hiện ở đầu các lá già, với những vệt màu đồng, toàn lá chuyển màu đỏ nhạt sau đó sang đỏ đậm, bìa lá uốn cong về phía trên đầu là khô dần và toàn lá bị héo khô. Bệnh còn gây hại ở bộ rễ, ban đầu các rễ non bị thối sau đó toàn bộ hệ thống rễ bị hư làm ngừng quá trình hấp thu dinh dưỡng và nước của cây. Bệnh do Virus gây nên và lan chuyền qua chồi giống hoặc thông qua rệp xáp chích hút nhựa cây (thời gian ủ bệnh từ 3-8 tháng). Khi cây đã nhiễm bệnh thì không có thuốc trị.

                                                              Bệnh héo khô đầu lá

    Cách phòng trừ: Luân canh định kỳ với cây trồng khác, chồi giống phải được lấy ở vườn không bị bệnh, dọn sạch tàn dư sau khi thu hoạch quả (không để nơi cho rệp ẩn nấp), làm đất kỹ và phơi ải 20-30 ngày, xử lý chồi giống và chăm sóc bón phân cân đối. Vì có mối quan hệ mật thiết giữa bệnh héo khô và rệp xáp do vậy diệt rệp xáp cũng chính là động tác ngăn ngừa bệnh khô đầu lá dứa hiệu quả.

+ Xử lý chồi giống (diệt rệp xáp): dùng 12,5 ml  Bavistin 50FL + 40 ml Oncol 20EC pha trong 10 lít nước, nhúng gốc chồi giống  3-5 phút trong dung dịch thuốc trước khi trồng.

+ Phòng trừ rệp sáp, sử dụng thuốc nội hấp lưu dẫn Goldra để phun, phun định kỳ 15- 20 ngày/1lần (phun 2-3lần). Hoặc các loại thuốc như: Oncol 20EC; Nurelle D 25/2.5EC; Mospilan 3EC; Cori 23EC … sử dụng theo hướng dẫn trên bao bì của nhà sản xuất.

5.2. Bệnh thối nõn dứa

    Là một trong các bệnh gây hại đáng kể trên cây dứa: Vết bệnh thường ở phần gốc lá non, đỉnh sinh trưởng của cây bị thối, toàn bộ thân cây và gốc lá có màu trắng đục sau đó chuyển dần sang màu vàng nâu nhạt rồi nâu đen, giữa mô bệnh và mô khỏe có đường viền màu nâu nổi rõ. Lá chuyển từ màu xanh sang vàng rồi đỏ, chóp lá khô xám, tóp lại, cuộn xuống phía dưới, mép lá hơi cuộn vào bên trong, cây lùn xuống và chết dần, có thể dễ dàng rút các lá ngọn khỏi thân. Những cây đang mang quả bị bệnh, cuống quả bị thối, quả gẫy gục.

Cách phòng trừ: Cần chọn chồi giống khỏe mạnh từ ruộng sạch bệnh, trước khi trồng lại dứa, đất cần được cải tạo, luân canh với các cây trồng khác (đặc biệt là với một số cây họ đậu sẽ có tác dụng cách ly và hạn chế nguồn bệnh tồn lưu trong tàn dư cây dứa và trong đất).

+ Xử lý chồi giống:  Chồi giống trước khi đem trồng cần cần được xử lý bằng cách nhúng gốc chồi vào dung dịch thuốc Aliette 80WP nồng độ 0,2% và Phosacide 200 nồng độ 4% hay Agri-fos 400 nồng độ 1% trong 5 phút.

+ Phun phòng trong thời gian sinh trưởng: Sử dụng các loại thuốc Aliette 80WP, Mexyl  MZ 72WP và Ridomyl MZ 75WP… phun với nồng độ và liều lượng theo hướng dẫn ghi trên bao bì nhà sản xuất, phun 3-4 lần, mỗi lần cách nhau 15-20ngày (Phun từ tháng 12 trở đi). Những cây đã bị bệnh phải nhổ bỏ đem tiêu huỷ và rải vôi bột vào vị trí đã nhổ cây để hạn chế bệnh lây lan.

+ Bón phân: Bón phân chuyên dùng để đảm bảo cung cấp đầy đủ và cân đối dinh dưỡng cho cây, giúp cây phát triển khỏe và tăng khả năng kháng bệnh cho cây (bón theo quy trình hướng dẫn trên bao bì nhà sản xuất).

  1. Thu hoạch

Dựa vào màu sắc, hình thái quả: Khi mới hình thành quả có màu đỏ rồi đến màu xanh, xanh đậm, xanh nhạt rồi đến màu vàng hoe và khi chín hoàn toàn quả có màu vàng đỏ. Thời gian thu quả tốt nhất là khi quả có màu xanh nhạt và bắt đầu có một vài mắt ở gần cuống quả có màu vàng hoe.

Dựa vào hình thái quả: Lúa già mắt quả bắt đầu căng ra, người ta gọi là thời kỳ “mở mắt”, thường quá trình này tuần tự từ dưới lên trên. Khi mở mắt hết là lúc quả đã già, thu hoạch vào lúc này bảo đảm phẩm chất tốt.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *